( The Hill ) – Một nhân viên của Bộ Hiệu quả Chính phủ (DOGE) đã từ chức vì các bài đăng phân biệt chủng tộc trên mạng xã hội vào tháng trước đã được phục chức để giám sát việc cắt giảm lãng phí, gian lận và lạm dụng vào tháng 3 theo hồ sơ của cơ quan do Elon Musk đứng đầu .
Marko Elez, 25 tuổi, bị cáo buộc đã từ bỏ quyền truy cập vào các hệ thống nhạy cảm đang được DOGE xem xét vào đầu tháng 2 theo thông tin được Tòa Bạch Ốc tiết lộ.
Tuy nhiên, anh ta được liệt kê là một nhân viên trong một vụ kiện yêu cầu chính quyền Trump phải tiết lộ danh tính của những người được cơ quan này thuê.
Các tài liệu pháp lý phân loại Elez là nhân viên của Bộ Lao động được phân công đến Sở DOGE Hoa Kỳ và Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh (HHS) kể từ ngày 5 tháng 3.
Hồ sơ cho biết anh ta có quyền truy cập vào danh bạ liên bang về những người mới được tuyển dụng, hệ thống kế toán sổ cái chung và hệ thống soạn thảo hợp đồng tại HHS.
Theo các tài liệu của tòa án, “Ông Elez đã được cấp quyền truy cập chỉ đọc vào các hệ thống được liệt kê ở trên để thực hiện chỉ thị của DOGE EO [lệnh hành pháp] nhằm xác định lãng phí, gian lận và lạm dụng, đồng thời hiện đại hóa công nghệ và phần mềm của chính phủ để tăng hiệu quả và năng suất”.
“Quyền truy cập của ông Elez vào các hệ thống CMS được tham chiếu ở trên đã bị vô hiệu hóa. Ông Elez không sửa đổi, sao chép và chia sẻ với bất kỳ người dùng trái phép nào hoặc xóa bất kỳ hồ sơ nào khỏi bất kỳ hệ thống nào mà ông thực sự đã truy cập”, thông báo viết.
“Hiện tại không có yêu cầu nào đang chờ xử lý để cấp cho ông Elez quyền truy cập vào các hệ thống nhạy cảm khác tại HHS, và ông Elez cũng chưa bị từ chối quyền truy cập vào bất kỳ hệ thống nào tại HHS.”
Các tài liệu xác nhận rằng ý định thuê lại Elez làm nhân viên của Musk đã được xác nhận.
“Anh ấy sẽ được đưa trở lại”, gã khổng lồ công nghệ viết trên X trong bối cảnh xuất hiện các báo cáo về việc chàng trai 25 tuổi này kêu gọi công chúng “Bình thường hóa sự thù ghét của người Ấn Độ” trong một bài đăng đã bị xóa.
Phó Tổng thống Vance, người có vợ là người Ấn Độ, cũng ủng hộ sự trở về của Elez.
“Đây là quan điểm của tôi: Rõ ràng là tôi không đồng ý với một số bài đăng của Elez, nhưng tôi không nghĩ rằng hoạt động truyền thông xã hội ngu ngốc này có thể hủy hoại cuộc sống của một đứa trẻ”, phó chủ tịch cho biết trên nền tảng xã hội X, ám chỉ đến nhân viên Marko Elez. “Chúng ta không nên thưởng cho những nhà báo cố gắng hủy hoại mọi người. Không bao giờ. Vì vậy, tôi nói hãy đưa anh ta trở lại”.
“Nếu anh ta là một gã tồi hoặc là một thành viên tồi tệ của nhóm, hãy sa thải anh ta vì điều đó”, ông nói thêm.
Khi Elez từ chức tại DOGE vào tháng 2, Bộ Tài chính đã ra tuyên bố rằng Elez được cấp quyền truy cập “chỉ đọc” vào các hệ thống thanh toán có độ nhạy cảm cao, mặc dù có nhiều báo cáo cho biết ông có khả năng viết lại mã cơ sở của hệ thống thanh toán.
Cô lớn lên như một đứa con gái tomboy, đánh gậy bóng chày giỏi hơn thằng em trai mình, có thể đá văng cặp kính ra khỏi mặt một thằng con trai, và vì thế cô không gần với mẹ lắm. Cô chẳng thấy mẹ mình có gì đáng yêu kính. Bà là người với một thân hình đẫy đà, có tật ngồi lê đôi mách, luôn tay luôn chân công việc nhà cửa, lại nợ nần cờ bạc, chẳng bao giờ thích hoạt động ngoài trời, vì quá quan tâm đến những chuyện trong gia đình nên bà chẳng hề đi đâu thăm thú thế giới, đại dương này nọ, ví dụ, bầu trời xanh chẳng có gì cho bà quan tâm, thấy thú vị.
Ngược lại, con bé là một cô gái nghịch ngợm hay cười và thích chơi đùa, thích thể thao, thích phim kung fu, thích đấu võ, thích được người khác thích mình, thích con trai.
Con bé đặc biệt thích đi chơi với Papa, ông trước đây là một trung sĩ binh chủng Thủy Quân Lục Chiến của quân đội Nam Việt Nam, một sát thủ từng được đào tạo trong chiến tranh, hoặc cái gì đó nguy hiểm tương tự, nhưng lúc đó cô còn quá bé để nhận biết một cách chắc chắn. Thực ra, điều đó không quan trọng. Đối với cô, ông là một người đàn ông hiền lành. Ông dạy cô cách móc con giun vào lưỡi câu cá, cách ném, và phải im lặng để cá đến. Cô cũng học được từ ông cách chuyển động theo nhịp điệu của đại dương, biết cảm nhận chiếc thuyền lắc lư như thế nào, biết trân trọng sự cô đơn của ông; ông già đôi khi trông giống như một bức tượng đá, có lẽ một sinh vật cổ xưa, nhưng nếu có con cá dính câu, thì ông bỗng bừng lên sống động mạnh mẽ.
Gầy gò, mỏng manh và nhỏ bé đến thế, ai có thể nghĩ rằng một con bé thích nghịch ngợm, liệu có trở thành một phụ nữ xinh đẹp?
Nhưng rồi đến năm mười sáu tuổi, cô trổ mã. Cái đẹp cứ thế nở ra từ bên trong như những đóa snapdragon và daffodil. Một đóa hoa nở muộn, mọi người nói như thế, và hoa nở muộn thì chẳng bao giờ tàn phai. Thật đẹp, thật duyên dáng; mông vú nảy nở, mái tóc đen nhánh chảy dài như tơ, nụ cười rạng rỡ, và cô có sự nhanh nhẹn của một con linh dương, sự nín thở của một con bồ câu đang bay.
Tại một bữa tiệc ăn tối được tổ chức mừng sinh nhật lần thứ năm mươi của ông bố, tất cả những gã đàn ông có mặt cố không nhìn cô lúc cô đem đồ uống cho mọi người. “Không thể là con bé đó được!” Họ cứ kháo nhau như thế, trong lúc ông bố cả cười, “Chính là con bé nghịch ngợm của tôi chứ còn ai vào đây. Chính nó đấy.”
Một người trong nhóm bạn lính của bố cô, người trẻ nhất, hiện là một nhà buôn bán địa ốc thành đạt và mới ly hôn, công khai tán tỉnh cô. “Cưới anh nhé,” hắn ta bảo con bé, “em là người đẹp nhất trên đời!” “Được thôi, chú, bất cứ lúc nào chú muốn,” cô trả lời người đàn ông và ngồi lên đùi hắn theo cách cô vẫn làm từ khi còn con nít, “và cháu muốn chú mua cho cháu một lâu đài trên đồi!”
“Bất cứ điều gì em muốn!” hắn ta nói. “Bất cứ điều gì, công chúa của anh,” và tất cả bọn họ đều phá lên cười, nhưng cô thoáng trông thấy cặp mắt nhíu mày không vừa ý của ông bố nhắm về mình trong nửa giây. Nó là con bé tomboy bé nhỏ của tôi, ông bố lại nói với mọi người, và lẽ tất nhiên, cô trả lời ông, Papa ơi, lúc nào cũng vậy, Papa biết điều đó mà. Nhưng sau đó, khi khách khứa ra về hết, ông tát cô một cái nổ đom đóm. Mày hành động như một con điếm, ông lạnh lùng bảo cô, nhưng vang vọng trong cái tát đó cô nghe lời thì thầm của gã đàn ông bạn ông bố lúc chào từ biệt ra về – Em thật là ngon đếch chịu được! – và gần như bật cười thành tiếng.
Ngon đếch chịu được đến nỗi nhan sắc của con bé trở thành một lời nguyền, không còn thích hợp nữa cách cô từng sinh sống trong chính ngôi nhà của mình, cách cô đi lại trong căn nhà đông người giờ đây hoàn toàn khác hẳn; ngon đếch chịu được đến nỗi sự căng thẳng không ai nói ra ngày càng gia tăng giữa cô và các chị em gái vốn thua xa cô về nhan sắc; ngon đếch chịu được đến nỗi anh em trai phải tránh nhìn cô và không chơi đấu võ với cô nữa; ngon đếch chịu được đến nỗi mẹ cô trở nên lạnh lùng và xa cách hơn; ngon đếch chịu được đến nỗi năm mười bảy tuổi cô bỏ nhà ra đi.
Dù sao chăng nữa thì cũng đã đến lúc cô phải bước ra ngoài nhìn xem thế giới ra làm sao. Cô lặng lẽ đóng gói áo quần và nói lời tạm biệt với gia đình, họ phản đối, nhưng cô tự hỏi chẳng phải những người phụ nữ trong gia đình đã kín đáo lộ vẻ mừng vui khi thấy cô khăn gói ra đi đấy sao?
Họ khóc, và cô cũng khóc, nhưng cô đã đi. Đến trường đại học ở miền Bắc, cô gặp một người đàn ông rồi một người đàn ông khác rồi một người đàn ông khác nữa. Thực ra, đàn ông đủ mọi loại người, đủ mọi màu da và chủng tộc, đổ xô đến với cô.
Đàn ông mạnh mẽ, trẻ trung, gợi cảm, đẹp trai và thông minh, đàn ông tham vọng, giàu có và nghèo đói. Những người đàn ông yêu cô và cô nghĩ là cô cũng yêu lại họ. Cô có tất cả sự duyên dáng trời phú cho một người đàn bà. Lại thông minh và có trí tưởng tượng phong phú, một người thú vị và vui tính, cô còn biết nhảy cha-cha-cha, nhảy pasodoble và tango. Cô duỗi chân một cách thoải mái như con thiên nga duỗi đôi cánh trắng như tuyết, cô mỉm cười, cổ họng kêu gù gù khi người tình đi vào cô, những buổi trời mưa, một tiếng thở dài của cô cũng có thể làm nên một câu thơ – cô chẳng phải là người bạn tuyệt vời của bất kỳ gã đàn ông nào, một người vợ ngoại hạng của bất cứ thằng chó đẻ nào may mắn giành được trái tim cô đấy ư?
Nhưng hãy nói cho tôi biết, trái tim cô ở đâu? Thật kỳ lạ, cô chẳng bao giờ thấy gắn bó với bọn đàn ông này, luôn cảm thấy cô đơn, không hạnh phúc, chuyện làm tình, ôm nhau hôn hít chỉ là những khoảnh khắc thoáng qua, và những tên đàn ông đẹp trai, tài giỏi đầy tương lai tan biến cùng với gió hoặc bị mưa và sương mù từ những ngọn đồi vào sáng sớm cuốn trôi đi.
Bạn gái cô có lúc hỏi cô mọi chuyện thế nào với anh nọ anh kia thì cô chỉ khẽ thở dài và nói một cách mơ hồ, Ồ, có gì đâu, nhưng…
Nhưng không ổn chút nào. Cô chóng chán và tìm ra lỗi ở những gã đàn ông này, bởi tất nhiên họ cũng chỉ là đàn ông, tất cả đều có lỗi lầm. Bạn biết là tôi không thích hoa hồng…
Nhưng không phải vì lỗi lầm của những gã đàn ông mà mối quan hệ giữa cô với họ không kéo dài. Có một cái gì đó khác sâu thẳm bên trong, một cái gì đã buộc cô nhắm mắt lại hoặc rên rỉ thành tiếng, điều gì khiến cô sợ rằng chẳng mối quan hệ nào kéo dài, và chỉ một thời gian là tan vỡ y như nhau. Và thế là, từng người một, cô chia tay người đó, hoặc người đó chia tay cô.
“Chuyện gì thế, em yêu,” có người đàn ông hỏi cô. “Anh đã làm gì sai trái?”
“Chẳng có chuyện gì đâu, cưng à,” Cô thở dài, “có lẽ chỉ là thời tiết. Có lẽ chỉ vì chúng ta quá thoải mái với nhau thôi.”
Và chẳng bao lâu sau, trái tim người đàn ông tan vỡ: cô không muốn gặp lại anh ta nữa.
“Chúng ta chỉ là bạn bè,” cô nói với một người, hoặc, “Mối quan hệ của chúng ta đã sai lệch và bây giờ chúng ta là anh em,” với một người khác. Một trái tim tan vỡ. Rồi một trái tim khác nữa. Một trái nữa.
Nhiều đến nỗi cô quyết định xóa bỏ âm thanh những trái tim bị tan vỡ trong máy trả lời điện thoại. Cô cắt điện thoại, đem chiếc máy ghi âm thanh những trái tim tan vỡ đi cho, và cùng lúc cô dọn sạch mạng nhện và những đồ vật phế thải bừa bãi trong căn hộ của mình, ném hết bàn ghế và tất cả quần đùi, cà vạt, áo sơ mi tích tụ trong tủ quần áo từ bấy lâu. À, bây giờ thì có rồi, sự bình yên, không gian này, sự cô đơn này, sau đó cô tự nhủ, đây chính là
những điều ta ước muốn. Từ giờ trở đi, chỉ có ta và chính ta mà thôi.
Nhưng nỗi buồn vẫn tiếp tục. Và chẳng bao lâu, vì cô đơn, cô có một người yêu mới và kết nối lại điện thoại, và thế là những trái tim tan vỡ lại tiếp tục được ghi vào máy nghe, một số không còn nghe thấy gì nữa. Nhưng thực ra, ai đếm? Không phải cô. Cô vẫn không vui và vẫn xa cách, sương mù vẫn tiếp tục đánh giạt những buổi sáng qua căn hộ của cô, và cô cảm thấy đã muốn chạy trốn ra khỏi cuộc tình mới này, một người đàn ông Mỹ gốc châu Phi cao ráo và đẹp trai, nước da màu mật ong sáng láng, một nhân viên bảo vệ đang học để trở thành nhà làm phim, nhưng cô đã chống lại và tìm cách xa lánh, bởi vì cô biết rằng mọi thứ sẽ bắt đầu lại từ đầu và cô quá mệt mỏi.
Nhưng có chuyện gì với cô? Cô bị lời nguyền rủa nào sao, bị một mụ hà bá trù ẻo như thường nghe trong truyền thuyết dân gian Việt Nam, để sống phần còn lại của đời mình trong vùng ánh sáng nhợt nhạt, tối tăm?
Cô không thể tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi này bởi vì cuộc sống cô bây giờ đã trở nên khá mờ rối, như cái cách khán giả của cô xuất hiện trước mặt khi cô múa thoát y tại một nhà hàng bán rượu cao cấp. Nhưng nếu cô chỉ cần làm việc, làm những gì cô làm tốt, nhảy nhót một chút, tán tỉnh một chút, khoe khoang một chút phần da thịt nõn nà tuyệt đẹp của mình, thì có lẽ điều gì đó khác sẽ hiện lên. Có lẽ nếu cô lại tìm đến một nơi xa xăm nào đó, có lẽ nếu cô thay đổi nơi sống của mình để có nhiều ánh sáng mặt trời hơn, hoặc nếu cô chấp thuận lời đề nghị của một gã khách hàng trẻ giàu có bay sang Paris trên chiếc máy bay phản lực riêng của gã ta, hoặc đồng ý đến Hollywood với cái lão già béo phệ ngồi trên chiếc limousine bóng loáng và xem cách lão ta biến tưởng tượng thành hiện thực, có thể cô sẽ giải quyết một số những điều phiền muộn bí ẩn trong tâm tư cô.
Có lẽ…
Một đêm nọ, về nhà sau khi nhảy ở nhà hàng về, cô đi tắm thật lâu, lúc bước ra khỏi bồn tắm, chiếc khăn xanh yêu thích của cô bỗng rơi từ trên tóc xuống sàn nhà. Cô cúi xuống nhặt lên. Trên chiếc khăn nhăn nhúm cô chợt thấy hiện lên một hình ảnh gì đó khiến cô cảm thấy buồn nôn vô cùng và đầu óc cô trở nên hoảng loạn, cô chạy về phòng ngủ vùi mặt vào chiếc gối lông vũ.
Cô bắt đầu nhìn thấy những khuôn mặt, một số người quen nhưng một số người hoàn toàn xa lạ. Họ tụ tập quanh cô trong một căn phòng rất tối, và cô cảm thấy như thể mình đang chết đuối. Sau đó, cô nghe tiếng sóng vỗ nhẹ vào mạn thuyền. Có người đang gọi tên cô, tên tiếng Việt của cô. Cô cố tìm giọng nói đó phát xuất từ đâu giữa những khuôn mặt buồn bã trong căn phòng đầy người đó. Thoạt đầu thì rất rối loạn, nhưng dần dần, cô nhận ra người đang gọi tên cô. Đó là khuôn mặt mà cô đã biết trước khi cô trở thành một thiếu nữ xinh đẹp, trước khi làm nghề múa thoát y cho đàn ông xem, trước khi học nói tiếng Anh và trước khi đến xứ Mỹ. Tất nhiên, đó là khuôn mặt của cha cô, và nó hiện ra trong mắt cô khi cô nằm ngủ chập chờn trên miếng giẻ trong thân tàu đầy ắp những người tị nạn ở giữa Thái Bình Dương, một đứa trẻ nhỏ đang chết khát. Gia đình cô ở xung quanh, không khí ẩm ướt và hôi thối không chịu nổi, vẻ lờ đờ kỳ lạ là lời nguyền rủa trong mắt mọi người. Cha cô bảo, “Dậy đi con, dậy đi, dậy uống ly sữa này trước khi chết.”
Cô nhớ ánh mặt trời chiếu xuống cô như thế nào và gió thổi càng lúc càng mạnh, cô nhớ lại khung cảnh cô liếc nhìn ra ngoài thấy đại dương xanh biếc và bao la như thế nào. Sau đó cô thấy người cha đỡ cô lên cho ngả đầu về phía ông, rồi cô nếm cái chất lỏng âm ấm nhơn nhớt, và cả thế giới đi vào cô cùng với những ngụm nhỏ đó. Cô ngước nhìn cha mình, chớp mắt, thậm chí cố mỉm cười, vì sâu thẳm bên trong, cô biết cô sẽ sống sót, dù chỉ là sống cho ông.
Và lúc này trên chiếc giường của cô, lúc này là một người đàn bà trẻ đẹp đang khóc, cô biết rằng cô đã rất sung sướng lúc đó chứ không phải bây giờ. Vì không gì có thể thay thế được cử chỉ của cha cô lúc đó; mọi thứ khác – Nước Mỹ, những người đàn ông yêu thương cô, những người quan tâm đến cô, những kẻ đã khóc, đã nhảy múa, những kẻ có trái tim vỡ tan như pha lê trong máy trả lời điện thoại, thậm chí ngôi nhà hạnh phúc mà cô đã bỏ đi, thậm chí Paris và Hollywood và xe limousine và tiền, tất cả là một ẩn dụ nghèo nàn cho những gì cô mong muốn. Điều cô khao khát là cử chỉ thoáng qua trên đại dương đó, lúc này, hơn bao giờ hết, cô cảm thấy cơn khát điên cuồng trào dâng từ sâu thẳm bên trong, một cơn khát mãnh liệt, mãnh liệt đến độ điên cuồng, thiêu đốt tất cả đến nỗi không có gì trên thế gian này, ngay cả tình yêu, có thể dập tắt được.
Andrew Lâm
Trịnh Y Thưdịch
* ‘Cô Gái Trong Điệu Nhảy Loạn Cuồng’ hay She In The Dance of Frenzy) là truyện ngắn mở đầu của cuốn sách “Stories from The Edge of The Sea” (Chuyện Bên Rìa của Biển) của nhà văn Mỹ gốc Việt Andrew Lâm, do nhà sách Red Hen Press xuất bản và phát hành vào ngày 25 tháng Ba, 2025.
Tác giả Andrew Lâm sẽ có mặt cùng tác phẩm “Stories from the Edge of Sea” tại hội thảo “50 Years of Storytelling: The Evolution of Vietnamese American Voices in Literature Moderator,” do Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (VAALA) tổ chức vào lúc 10 giờ 30 phút sáng Chủ Nhật, 6 Tháng Tư, tại viện bảo tàng Bowers Museum, 2002 N. Main St., Santa Ana, CA 92706.
Tuổi thơ của tác giả đã kết thúc, ít nhiều, trên bãi biển Vũng Tàu, Việt Nam, “nơi phép thuật và lời cầu nguyện đã thất bại”. Trong đoản văn trữ tình này, ông trở lại khung cảnh ngày xưa như một người tị nạn kép – cả thực tế lẫn trong ký ức.
*
Một buổi chiều, từ rất lâu rồi, tôi thấy mình đơn độc trên bãi biển Vũng Tàu, Việt Nam, một thành phố biển gần Sài Gòn, đứng nhìn ra khơi. Chiến tranh ngày một tệ hơn. Huế và Đà Nẵng đã thất thủ. Tiếp theo là cao nguyên Trung Phần. Sài Gòn đang hoảng loạn. Quân đội cộng sản đang tiến quân mà không bị cản trở. Tôi mới mười một tuổi và khá nhỏ con so với tuổi của mình. Bãi biển gần như vắng tanh. Gió và sóng như thét gào bên tai tôi. Với hai cánh tay dang rộng, tạo thành những hình thù kỳ lạ trên không, tôi lớn tiếng tụng niệm những câu thần chú.
Nhưng tôi đã làm gì ở đó một mình?
Không thể nào quay ngược lại quá khứ để khẳng định rằng mình biết rõ cậu bé đó. Trong một thời gian rất dài ở Mỹ, khoảnh khắc đó đã trôi qua với tôi – cho đến tận những năm gần đây. Nhưng tôi vẫn nhớ rất rõ điều gì đã dẫn đến khoảnh khắc đó. Gần cuối chiến tranh, cha tôi và người anh trai, cả hai đều là tướng lĩnh trong quân đội Miền Nam Việt Nam, đã bị Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu giam giữ, cùng với năm vị tướng khác. Sau khi ra lệnh rút quân khỏi các khu vực khác để về bảo vệ Sài Gòn và vùng phụ cận, Thiệu lo sợ một cuộc đảo chính quân sự. Vì vậy, ông đặt các vị tướng trong vòng giám sát tại một khu nhà tươm tất bên trong Bộ Quốc Phòng cạnh sân bay Tân Sơn Nhất.
Gia đình tôi và gia đình bác tôi đến Vũng Tàu theo chỉ thị của cha tôi. Ông được cho biết các tàu hải quân Mỹ sẽ cập cảng để di tản nhiều gia đình có địa vị và thân thế. Chúng tôi ở trong một biệt thự khá lớn, với những cây phượng bắt đầu nở hoa đỏ thắm, và biển ở ngay bên kia đường. Một buổi chiều, tôi nhớ tất cả những người phụ nữ ngồi cùng nhau tại một bàn ăn cạnh cửa sổ mở trên tầng hai, cần mẫn tháo kim cương và hồng ngọc khỏi vòng tay và nhẫn bằng những chiếc kềm nhỏ. Mỗi người đều có một bộ đồ khâu vá chứa cúc áo, đê, kim và chỉ, những viên sáp giống như những ngôi sao. Dưới ánh nắng nhiệt đới, sáp đã mềm đủ để họ có thể nhét những viên đá quý vào bên trong để giấu chúng; tất cả là để chuẩn bị cho tình huống xấu có thể xảy ra trên tàu.
Họ làm việc chăm chỉ trong khi trò chuyện; nhưng đột nhiên một tiếng hét vang lên: một viên kim cương rơi khỏi chiếc nhẫn của dì tôi xuống sàn, và biến mất đâu đó dưới chân. Thật khó để tìm thấy nó trên sàn gạch hầu như trắng xóa; họ đã cố gắng tìm kiếm nhưng vô ích. Vì vậy, họ gọi tôi. Là một cậu bé, tôi bỏ lại đống truyện tranh tiếng Pháp của mình, dễ dàng chui xuống gầm bàn ghế, để cuối cùng tìm thấy viên kim cương lấp lánh gần chân bà tôi. Tôi nhớ mình đã giơ nó lên cho mọi người nhìn thấy. Dưới ánh nắng mặt trời, nó lấp lánh giữa những ngón tay nhỏ bé của tôi; mọi người đều cười nhẹ nhõm.
Và tôi nhớ mình đã cảm thấy hạnh phúc. Một thảm họa đang ập đến thế giới, nhưng tôi không hiểu gì mấy. Việc tìm thấy viên kim cương là đóng góp duy nhất của tôi cho gia đình; nhưng khi nhìn lại nó chẳng có nhiều ý nghĩa.
Có lẽ những câu chuyện về cướp bóc trên biển khơi, giết người, hãm hiếp khiến tôi sợ hãi, nên tôi một mình rảo bộ trên bãi biển tìm kiếm sự bình yên cho riêng mình. Cũng có thể là do buồn chán. Tôi rời ngôi biệt thự, đi dạo trên bãi biển bên kia đường một mình. Đó là một chuyến đi đơn độc hiếm hoi, vì hồi đó ít khi tôi được đi đâu một mình; lần này mẹ tôi không ngăn cản vì bà quá bận rộn. Tôi bước đi và bước đi. Tôi muốn làm điều mà những người anh em họ từng thách thức: đi bộ dọc theo toàn bộ chiều dài của bãi biển. Thường đông đúc vào cuối tuần, bãi biển giờ đây vắng tanh.
Khi không có ai nhìn thấy, tôi dừng lại. Chân tôi lún xuống cát, tay múa những động tác trên không trung. Tôi bắt đầu tụng những câu thần chú mà tôi tự nghĩ ra, rồi cầu nguyện với các vị Phật, những lời mà người mẹ Phật tử thuần thành đã dạy. Tôi múa tay trong gió như thể đang kéo một sợi dây vô hình. Tôi không thể khẳng định rằng biết chính xác những gì đã diễn ra trong tâm trí cậu bé lúc đó. Nhưng tôi đoán cậu bé tin rằng bằng một cách nào đó, với sự kết hợp giữa phép thuật, lời cầu nguyện và sức mạnh võ thuật tưởng tượng, cậu giống như những anh hùng trong tiểu thuyết võ thuật có thể gọi một con tàu Mỹ xuất hiện ở đường chân trời để giải cứu gia đình và người thân.
Tôi không nhớ mình đã biểu diễn điệu nhảy kỳ diệu này trong bao lâu, nhưng nó kết thúc khi tôi nghe có người gọi tên mình. Tôi quay lại và thấy người chị. Chị đi tìm tôi, vẻ mặt tuyệt vọng. Chị nói rằng có tin xấu, tàu Mỹ sẽ không đến. Chúng tôi phải về Sài Gòn ngay để tìm những con đường thoát khác.
Ngay sau đó, Thiệu trốn khỏi Nam Việt Nam. Các vị tướng may mắn được thả khỏi nơi quản thúc. Cha tôi nhanh chóng tìm được cách để chúng tôi rời khỏi Việt Nam. Sáng ngày 28 tháng 4 năm 1975, hai ngày trước khi Sài Gòn sụp đổ, chúng tôi chen chúc trên một chiếc máy bay vận tải để bay đến Philippines. Sau đó, chúng tôi lên một chiếc máy bay khác đến Guam, nơi những chiếc lều quân đội được dựng vội vã trên bãi đất mới được san phẳng, để chào đón những di dân mới nhất của nước Mỹ.
Tôi nhớ những cơn gió khô nóng, mặt đất gồ ghề, những dãy người xếp hàng dài dưới cái nắng gay gắt để nhận khẩu phần ăn. Khi đài BBC thông báo Sài Gòn đã thất thủ, tiếng khóc than vang khắp khu lều trại.
Thời gian lưu trú của chúng tôi khá ngắn. Gần một tháng trôi qua nhanh như một cơn lốc; rồi chúng tôi được đưa đến một căn nhỏ nhỏ ở cuối phố Mission thuộc khu vực Top of the Hill, một khu phố lao động đầy sương mù ở phía nam San Francisco, nơi anh trai cả của tôi đã sống khi còn là sinh viên du học.
Vài tuần đầu tiên ở Mỹ, tôi cảm thấy như tê liệt và bối rối. Tôi còn gặp một cơn ác mộng tái diễn, trong đó tôi bị bỏ lại trong ngôi nhà của mình ở Sài Gòn, và bị những người đàn ông vô danh mặc quần áo đen rượt đuổi. Chúng tôi mặc những chiếc áo lạnh được biếu tặng, ăn ngay trên sàn nhà. Chúng tôi không có tin tức gì về cha mình, người đã ở lại. Rồi một ngày điện thoại reo: cha tôi sau cùng đã thoát khỏi Việt Nam trên một con tàu hải quân. Tất cả chúng tôi đều khóc vì sung sướng. Đến giữa mùa hè, cha đến ở với chúng tôi. Mặc dù là một gia đình tị nạn nghèo sống ở rìa thành phố, nhưng chúng tôi cảm thấy trọn vẹn.
Rồi những cơn ác mộng tái diễn cũng kết thúc, và tôi bắt đầu thay đổi. Nếu vào đầu mùa hè tôi cảm thấy sợ hãi, lạc lõng giữa sự to lớn của nước Mỹ; thì đến cuối mùa hè tôi đã đi khám phá những ngọn đồi gần ngôi nhà mới cùng những người bạn mới trong khu phố. Tôi học cách chửi thề bằng tiếng Anh một cách thích thú, học luật chơi bóng chày và cách bắt bóng, mặc dù còn rất dở.
Chẳng mấy chốc, tôi bắt đầu vỡ tiếng. Giọng nói vỡ đi cùng lúc tiếng Anh thấm vào, đến nỗi tôi cảm thấy như thể ngôn ngữ mới đang biến đổi tôi từ trong ra ngoài. Và hơn thế nữa, nó giúp tôi thoát khỏi nỗi buồn lưu vong giờ đây bao trùm lên những thành viên trong gia đình tôi.
Ở nhà, tôi gần như câm lặng; nhưng ở trường, tôi điệu bộ, lắm mồm. Vào cuối tuần, tôi đến các thư viện công cộng đọc ngấu nghiến tiểu thuyết Mỹ. Vào thời gian rảnh rỗi, tôi xem phim hài hoặc đi chơi với bạn bè. Chúng tôi chơi quần vợt, ném đĩa, bóng bầu dục. Chúng tôi nghe nhạc Mỹ trên radio và nghe đĩa tấu hài. Chúng tôi xem Looney Tunes và cười phá lên.
Nghĩa là, tôi đã nuốt trọn nước Mỹ. Khi tôi vào trường trung học vài năm sau đó, tôi trở thành một người khác. Tôi còn đổi tên thành Andrew. Việt Nam, giống như một tấm bản đồ cũ của một thế giới không thể cứu vãn được, được cất giữ cùng với nỗi buồn và thương đau, chắc chắn sẽ phai nhạt dần. Trong một vài năm, tôi đã từ bỏ nó bằng cách từ chối nói tiếng mẹ đẻ, mặc dù vẫn nghe rất nhiều. Người lớn nói chuyện hàng đêm trong ngôi nhà mới ở Mỹ, thường là với giọng buồn bã, hoài niệm. Tôi giả vờ không nhớ gì cả. Với những tham vọng và cảm xúc mới hình thành của một người Mỹ, tôi tiếp tục cuộc sống mới một cách hạnh phúc.
Nhưng tại sao tôi lại kể cho các bạn về những điều này?
Bởi vì tôi đang viết những dòng này từ bãi biển Vũng Tàu, nơi tôi đã từng đứng gần nủa thế kỷ trước. Sau ngần ấy năm dài, tôi quyết định sẽ hoàn thành chuyến đi bộ trên bãi biển mà mình từng muốn làm khi còn trẻ. Và tôi muốn bạn biết rằng, đôi khi qua nhiều khúc quanh kỳ lạ của cuộc sống, con đường hướng tới tương lai có thể đưa bạn trở lại đúng bờ biển năm xưa, nơi mà bạn đã từng cầu nguyện được thoát khỏi.
Nhưng con đường trở về nhà không dễ dàng. Trong nhiều năm, cuộc chiến đã giết chết nhiều người; và chuyện bao nhiêu người chết nữa trên con đường vượt biển trốn chạy đối với tôi chỉ là những câu chuyện đầu môi, kể lại để gây sự chú ý với bạn học, người quen, rồi sau đó, với người yêu. Những câu chuyện đó tạo cho tôi đôi chút khác biệt, nhưng không nhiều. Nhưng sau khi tốt nghiệp đại học, thay vì học trường y, tôi đã học văn chương, và trở thành một nhà văn, nhà báo.
Cuối cùng, tôi đã được nhìn thấy quê hương của mình một lần nữa vào đầu những năm 1990. Khi đó, tôi nhìn Việt Nam như một nhà báo Mỹ, đưa tin về câu chuyện của một đất nước từng bị tàn phá sau Chiến Tranh Lạnh. Tôi quan tâm đến nghề nghiệp, những gì tôi có thể viết nhiều hơn là việc tôi có gắn bó với quê hương hay không. Tôi tự nhủ rằng Việt Nam chỉ là một điểm đến, không còn là định mệnh của tôi nữa. Vẫn còn những điểm đến khác: Lào, Campuchia, Thái Lan, Hồng Kông.
Và phải mất thêm nhiều năm, nhiều chuyến về thăm, nhiều nhiệm vụ và câu chuyện được giao để viết, và một vài nỗi đau trước khi tôi có thể bắt đầu nghĩ đến việc trở về sống ở quê hương của mình một lần nữa.
Nhưng ở thời điểm hiện tại . . .
Những ngày này, khi đã nghỉ hưu, tôi chia thời gian sống giữa San Francisco và Sài Gòn, thành phố nơi tôi sinh ra, hay thành phố Hồ Chí Minh như những người khác vẫn gọi. Nhưng khi ở Việt Nam, một đất nước đầy những người trẻ tuổi háo hức tiến về phía trước, tôi luôn phải cân bằng giữa ký ức tuổi thơ về một quê hương đã mất từ lâu; với thực tế của một đất nước đang hiện đại hóa nhanh chóng, đang tiến về tương lai với tốc độ chóng mặt.
Từng là một đứa trẻ trong một gia đình khá giả sống ở Sài Gòn, giờ đây tôi là một lữ khách đơn độc ở đó. Gia đình và gia tộc tôi đã chạy trốn ra nước ngoài và tản mát từ lâu; cha mẹ thân yêu của tôi giờ đã khuất. Vào những ngày Sài Gòn nắng nóng không thể chịu nổi, thỉnh thoảng lắm tôi mới đi ra Vũng Tàu hoặc đến các khu nghỉ mát gần đó. Mặc dù tôi rất thích gió biển, nhưng tôi sợ một nỗi buồn không thể tránh khỏi, không mạnh mẽ mà mơ hồ, lúc có lúc không. Vì vậy, đôi khi ở Vũng Tàu, tôi ở các khu nghỉ mát bên ngoài thành phố, tránh xa quá khứ.
Lý do thật dễ hiểu. Khi nhìn thấy những đứa trẻ la hét chạy quanh trên cát, những bà mẹ khó tính đuổi theo, gia đình và bạn bè quàng khăn tắm tụ tập bên nhau với tiếng cười và tiếng la hét, tuổi thơ của chính tôi lại trở về. Thật vậy, đối với chúng tôi, những đứa trẻ trong thời chiến tranh Việt Nam, Vũng Tàu là một niềm vui thuần khiết, một sự giải thoát mong ước so với Sài Gòn nóng nực và chật chội, nơi không có gì ngoài trường học, những con phố nhỏ, và lệnh giới nghiêm do chiến tranh. Tôi nhớ những trò chơi bài náo loạn, chơi trốn tìm với những người anh em họ. Tôi nhớ nhiều tiếng hát; những người lớn kể chuyện ma khiến những đứa trẻ như tôi hét lên vì sợ hãi.
Vũng Tàu là một mỏm đất nhô ra biển dài mười một dặm, có lịch sử bắt đầu từ thế kỷ thứ Mười Bốn, khi thương thuyền đến cảng giao thương với người dân địa phương, khi đó vẫn là thuộc Vương Quốc Khmer. Vũng Tàu theo nghĩa đen có nghĩa là khu vực của tàu thuyền. Cát ở đây khá thô, có màu nâu ngả đen, và biển dường như chưa bao giờ chuyển từ xám sang xanh. Có lúc nước còn bị ô nhiễm, đặc biệt là khi dòng sông mang theo rác thải từ Sài Gòn đổ ra biển, đến nỗi có những ngày chỉ những người rất dũng cảm và ngu ngốc mới dám bơi. Và vào những ngày cuối tuần và ngày lễ, một nửa Sài Gòn dường như trốn thoát đến Vũng Tàu; bằng cách nào đó tái tạo một Sài Gòn quá tải, tắc nghẽn khác bên bờ biển.
Photo by Andrew Lam
Đối với một khách du lịch sành điệu, Vũng Tàu là một thành phố nghỉ mát hạng ba. Nhưng với riêng tôi, từng lớp lịch sử được chôn sâu trong những bãi cát này; chúng khiến cho những chuyến ghé thăm hiếm hoi của tôi còn trở nên khó khăn hơn. Vũng Tàu thực sự trở thành một thành phố du lịch; bãi biển đầy những khách sạn lớn, khu chung cư, trung tâm hội nghị; thậm chí còn có một công viên giải trí ngay bên bờ biển. Nhưng đó không phải là thành phố biển mới mà tôi thấy. Thay vào đó, ký ức cũ trên bãi biển đó lại ùa về, tạo ra một loại sức mạnh kỳ lạ và bất ngờ đối với tôi.
Đối với nhiều người, tuổi thơ phai nhạt chậm. Đối với một số người, ký ức tuổi thơ còn kéo dài đến tận khi trưởng thành. Tuy nhiên, tuổi thơ của tôi đã kết thúc ở một thời điểm, một địa điểm cụ thể: nó kết thúc trên bãi biển Vũng Tàu, nơi phép thuật và lời cầu nguyện của tôi đã thất bại.
Nhìn lại, tôi là một người tị nạn kép. Đột ngột bị buộc phải rời khỏi quê hương yêu dấu của mình, tôi cũng thoát khỏi những điều kỳ diệu thời thơ ấu cùng lúc đó. Sau đó, ở đất nước mới, tôi đã đi rất xa và nhanh thoát khỏi cậu bé ngày xưa, đến nỗi khi nhìn lại, tôi không thể khẳng định rằng mình thực sự biết cậu bé này.
Giữa cậu bé đó và tôi là một gián đoạn tâm lý phát triển thành một vực thẳm. Giống như bằng cách nào đó vẫn còn một phần của tôi đứng đó trên bãi cát, hy vọng phép màu sẽ xảy ra; và rồi người đàn ông lớn lên ở nơi khác, trở nên thế tục, và giờ đang ở ngưỡng cửa tuổi già.
Ngày xửa ngày xưa, ông ta là một đứa trẻ được cưng chiều. Là con út trong ba anh chị em trong một gia đình giàu có ở Miền Nam Việt Nam, cậu bé vẫn chưa biết hết ý nghĩa của từ lưu vong. Quá đắm chìm trong các trò chơi đuổi bắt, đắm chìm trong truyện tranh và tiểu thuyết võ thuật, cậu bé không bao giờ thấy nắng cháy da đang đến, mặc cho những lời khuyên răn không ngừng của mẹ. Cậu bé sống trọn vẹn trong hiện tại, trong một thế giới mà phép thuật và ma quỷ là có thật, nơi mà việc trò chuyện hàng đêm với tổ tiên và Đức Phật là chuẩn mực. Trong khi người đàn ông đã vượt qua rất nhiều biên giới; người biết sống thoải mái trên bờ biển của người lạ; người chứng kiến các đế chế trỗi dậy và sụp đổ; người viết về sự tàn ác và đau khổ của con người. Và, ông ta không thể không cảm nhận thời gian đang trôi qua không ngừng nghỉ trong mỗi bước chân.
Nhưng dù sao, cuối cùng ông ta cũng ở đây, một lần nữa trên bãi biển cũ, lần theo những bước chân mà cậu bé đã từng bước. Chạy dọc theo bãi biển giờ đây có một lối đi dạo lát đá, và ông ta bước đi trên đó. Với làn gió mặn, những con sóng nhấp nhô, những đứa trẻ cười đùa chạy quanh trên cát, ông ta nghĩ đến sự trớ trêu: làm thế nào mà một thành viên trẻ tuổi và Mỹ hóa nhất trong gia đình lại là người duy nhất trở về chốn này sau nhiều năm tháng; và tưởng tượng rằng đất nước mà ông ta đã từng trốn chạy rất có thể sẽ là của mình một lần nữa.
Photo by Andrew Lam
Và biển gầm rú. Đứng giữa sóng gió lúc chạng vạng, ông ta cảm nhận được tuổi tác của mình khi ngón chân phải bắt đầu nhói đau. Ông sợ rằng đó có thể là một cơn gút khác. Ông nhìn đồng hồ. Trời đã muộn rồi. Ông dự đình tìm taxi trở lại khách sạn để uống một ít thuốc kháng axit, trước khi đi ăn bữa tối hải sản do bạn bè đãi.
Xa xa trên bãi cát, ông nhìn thấy hai cậu bé đang chơi đùa. Trong khi mẹ chúng nói chuyện điện thoại liên tục gần đó, chúng đang say sưa trong một cuộc đấu võ thuật. Hai cậu bé làm những cử chỉ trên không trung. “Lòng bàn tay của Thiên Long”, một đứa hét lên. “Những ngón tay của tia chớp dương thượng”, đứa kia đáp lại. Hình bóng của chúng nhảy múa trong bóng tối, tiếng cười vang lên, niềm vui của chúng lan tỏa.
Người đàn ông quan sát hai cậu bé, rồi trong vô thức chợt bắt chước những cử chỉ đó. Nhưng rồi ông dừng lại, cảm thấy ngượng ngùng. Không ổn chút nào, không có sức mạnh ma thuật nào phát ra từ những ngón tay nhăn nheo này. Nhưng trong nỗ lực đó, ông nhìn thấy một điều khác mà mình chưa từng thấy trước đây: cậu bé của ngày xưa không chỉ cố gắng cứu gia đình và gia tộc bằng trí tưởng tượng. Ở mức độ sâu thẳm nhất, nó đang cố gắng theo cách riêng của mình, bảo vệ thế giới của những linh hồn và bóng ma của những anh hùng bay trên những đám mây; thế giới mà nó sống và tin tưởng cho đến giây phút cuối cùng. Có nghĩa là nó đang cố gắng cứu lấy tuổi thơ của mình. Những gì người đàn ông cảm thấy lúc đó không phải là cay đắng hay hoài niệm, mà là một điều khác trước đây chưa từng cảm thấy: sự dịu dàng và lòng trắc ẩn đối với tuổi thơ của mình.
Và có lẽ thế là đủ.
Proust đã từng viết rằng “hành trình khám phá thực sự không phải là tìm kiếm những cảnh quan mới, mà là có đôi mắt mới”. Nhưng để trở về nhà sau một thời gian dài như vậy có thể đòi hỏi quyết tâm nuốt những nỗi đau bằng tất cả các giác quan; và tìm cách nối lại những mảnh vỡ rời rạc của cuộc đời thông qua thơ ca, truyện kể, giai điệu.
Đèn đường bật sáng, trên đầu người đang ông bầu trời chuyển từ màu hồng sang màu xám hoài niệm. Và, bên kia đường, một công viên giải trí lớn sáng lên; vòng đu quay và vòng xoay ngựa gỗ lấp lánh quyến rũ trong ánh đèn lung linh. Lối đi dạo giờ đây lấp lánh và rực rỡ về phía đường chân trời, người qua lại thưa dần.
Trời trở lạnh hơn khi màn đêm buông xuống. Ngón chân ông lúc này nhói đau. Tuy nhiên, sau một hồi do dự, ông ta quyết định tiếp tục đi. “Tốt hơn là mình nên thử, ít nhất là một lần, đi hết chiều dài bãi biển này trước bữa tối,” ông tự nhủ. “Lần sau ở đây, nếu có lần sau như vậy, mình có thể không đi hết nổi toàn bộ quãng đường.”
Andrew Lam | Doãn Hưng dịch
Andrew Lam là tác giả của tập truyện Birds of Paradise Lost và các tập tiểu luận East Eats West: Writing in Two Hemispheres và Perfume Dreams: Reflections on the Vietnamese Diaspora. Các bài tiểu luận trước đây của ông cho tạp chí WLT gồm “Living in the Tenses in Saigon” (Mùa hè năm 2019) và “To Feed, to Nurture, to Protect” (Tháng 7 năm 2023). Red Hen Press sẽ xuất bản tập truyện mới của ông, Stories from the Edge of the Sea, vào những ngày sắp tới trong tháng 3 năm 2025. Đón đọc bài điểm sách của Việt Báo vào cuối tháng.
Tôi có một thói quen xấu khi đọc sách – luôn bắt đầu bằng cách mở trang cuối và đọc hàng cuối rồi gấp sách lại xem đầu óc mình nghĩ gì. Hôm nay, mở cuốn “Stories from the Edge of The Sea”, cuốn sách dày 216 trang với 14 truyện ngắn của tác giả người Mỹ gốc Việt Andrew Lâm, tôi lẩm nhẩm: “Hãy đứng đến giây phút cuối cùng, và bạn sẽ không bao giờ, không bao giờ phải đứng một mình.“*
“Giây phút cuối cùng”? Không hiểu sao hình ảnh Việt Nam những ngày cuối tháng Tư, 1975 hiện về. Dẫu chỉ là một đứa bé con 6 tuổi vào thời điểm này, nhưng lớn lên và sống với những hệ lụy lịch sử kéo dài từ cái ngày định mệnh đó, ngay trên mảnh đất quê hương bị đánh mất, những mảng đời, những câu chuyện, những ám ảnh, những mất mát luôn là những gì mà chính tôi, bạn bè tôi, gia đình tôi, quê hương, dân tộc tôi, vẫn gồng mình hứng chịu… dẫu nửa thế kỷ đã trôi qua.
Tôi hiểu mình sẽ bắt đầu đọc cuốn sách này bằng một sự “khó ở” trong lòng của một độc giả người Việt sống xa quê hương, trong tâm trạng u uẩn của thời điểm 50 năm nhìn lại.
oOo
Nhà văn Andrew Lâm và nhà văn Lan Cao tại Asia Society ở San Francisco.
Tháng Tư, 2025 đánh dấu 50 năm ngày cộng đồng người Việt tại Mỹ được hình thành từ biến cố lịch sử 30 tháng 4, 1975. Trong năm thập kỷ qua, văn chương lưu vong Việt Nam đã ghi lại từng giai đoạn của hành trình này: từ những câu chuyện về vượt biên, trại tị nạn, sự thích nghi khó khăn, cho đến các thế hệ nối tiếp bắt đầu tự định hình bản sắc trong xã hội Mỹ. Trong dòng văn học này, Andrew Lam là một trong những ngòi bút nổi bật, không chỉ vì lối viết ám ảnh, lôi cuốn và trữ tình, mà còn vì Anh là một trong những nhà văn đầu tiên của thế hệ sau 1975 dùng tiếng Anh kể câu chuyện Việt.
“Stories from the Edge of Sea”**, hay tạm dịch là “Chuyện Bên Rìa của Biển”, là tuyển tập truyện ngắn sắp ra mắt của tác giả, do nhà xuất bản Red Hen Press phát hành, sách sẽ đến tay độc giả qua các trang mạng vào cuối tháng Ba, trước khi bước vào tháng đánh dấu 50 Năm kể từ biến cố tháng Tư, 1975.
Như chính tựa đề, “Stories from the Edge of the Sea” là những câu chuyện của từng cá nhân, gia đình, những nhân vật mà biến cố tháng Tư 1975 đã đẩy họ ra khỏi quê hương, đặt một đại dương tối đen vào lòng cuộc đời họ – và giữa những con sóng phủ lấp là những nỗ lực hàn gắn vết thương, những cố gắng không ngưng nghỉ tìm một thế đứng trụ lại, trên đổ nát và tan vỡ là tình yêu và khao khát, hy vọng và xây dựng một cuộc đời đổi mới, nền móng cho một cộng đồng người Mỹ gốc Việt lớn mạnh ở Hoa Kỳ.
Nếu đã đọc qua các tác phẩm của những nhà văn người Mỹ gốc Việt tại hải ngoại như Viet Thanh Nguyen, Lan Cao, Nguyen Quy Duc, lê thi diem thuy… người ta nhận ra một điểm chung từ các chủ đề Andrew Lâm khai thác: di cư, mất mát, sự giằng xé giữa hai nền văn hóa, và những bóng ma của quá khứ.
Stories from the Edge of the Sea là cánh tay nối dài mở rộng thế giới mà Andrew Lâm đã dựng lên trong những tác phẩm trước của anh: một thế giới đầy ám ảnh, những ký ức đứt gãy, những ray rứt về một nỗi hoài vọng một thứ gì đó đã mất. Có một vẻ đẹp đau đớn trong cách Anh viết. Anh không kể chuyện theo trình tự, mà trôi theo dòng ký ức, đan xen giữa quá khứ và hiện tại, giữa thực hư. Đọc Andrew Lâm, ta có cảm giác như đang nhìn thấy một bức tranh bị rạn nứt, nhưng mỗi vết rạn lại phản chiếu một thứ ánh sáng rất riêng.
Với lời bạt: “Tặng cháu, Amy Lâm, người đã ra đi quá sớm, nhưng luôn để lại cho gia đình yêu thương trọn vẹn”, câu chuyện thứ nhất: “She in a Dance of Frenzy” (Cô Gái Trong Điệu Nhảy Loạn Cuồng) –mở đầu tập truyện ngắn Stories from the Edge of the Sea như một lời nguyền của cái đẹp, bằng hình ảnh mạnh mẽ của một cô gái ‘tomboy’ lớn lên giữa thế giới của đàn ông, ngổ ngáo, ngang tàng, nhưng rồi một ngày trở thành một người phụ nữ đẹp đến mức chính vẻ đẹp ấy biến cô thành một kẻ bị ruồng bỏ.
Lạc lõng, mất mát, cô đơn, cô lao vào thế giới của tình yêu, của xác thịt, nhưng không bao giờ cảm thấy hạnh phúc. Cô trở thành một vũ công, không phải vì tiền mà vì một sự trống rỗng không thể lấp đầy. Cái kết của truyện là một hình ảnh ngược về ký ức: khi đứng trước gương, cô không còn nhìn thấy mình mà thấy một đứa bé thoi thóp trên chiếc thuyền tị nạn, đang được người cha rót sữa vào miệng. Ký ức tưởng đã chôn vùi trỗi dậy, và cô nhận ra rằng thứ mình khao khát không phải là sự tự do, cũng không phải là sự công nhận, mà là một khoảnh khắc của tình cha con, của ý nghĩa sự sống—khoảnh khắc người cha đã cứu cô khỏi cái chết trên biển.
Biển, trong văn chương của Andrew Lam, luôn là một biểu tượng lớn, là một nơi vừa ám ảnh vừa cứu rỗi. Biển không chỉ đơn thuần là một không gian địa lý, mà là một dòng chảy ký ức, nơi những nhân vật của anh không ngừng bị cuốn về quá khứ, nơi họ đã đánh mất điều gì đó không thể lấy lại.
Trong “Swimming from the Mekong Delta” (Bơi từ Dòng Mekong Delta), hình ảnh biển gắn liền với sự sinh tồn và mất mát. Nhân vật chính, một người tị nạn vượt biển, đến được bến bờ tự do nhưng mang trên vai những ký ức không chỉ của riêng mình mà của những người đã chết dọc theo cuộc hành trình. Đọc truyện này trong bối cảnh 50 năm nhìn lại, người đọc không thể không ngậm ngùi liên tưởng đến hàng trăm nghìn người Việt đã bỏ mạng trên biển Đông—những linh hồn chưa bao giờ có mộ phần, chỉ tồn tại trong ký ức của những người sống sót.
Trong một truyện đầy chất thơ khác, “This Isle Is Full of Noises” (Hòn Đảo Đầy Nhiễu Âm), biển là nơi nhân vật chính bị mắc kẹt—một hòn đảo nhỏ giống như trại tị nạn, nơi quá khứ và hiện tại trộn lẫn, nơi nỗi sợ hãi không bao giờ biến mất dù nhân vật đã đặt chân đến miền đất giải thoát. Cảm giác lạc lõng, không thuộc về bất cứ nơi đâu là một chủ đề xuyên suốt trong văn chương của Andrew Lâm. Điều này phản ánh chính cuộc đời tác giả: một người lớn lên giữa hai thế giới—một Việt Nam chỉ còn trong ký ức và một nước Mỹ không hoàn toàn của mình.
Như các tác giả cùng thế hệ với Anh, Andrew Lâm sinh năm 1964 tại miền Nam Việt Nam trong một gia đình có địa vị, Anh ra đi ngay sau khi Sài Gòn sụp đổ, ở tuổi 11, lớn lên ở Hoa Kỳ. Cha Anh, tướng Lâm Quang Thi, là một nhân vật quan trọng trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa—một vị tướng từng tham chiến ở những trận chiến ác liệt và sau này trở thành tác giả của nhiều hồi ký quân sự quan trọng. Nếu cha Anh là người chứng kiến cuộc chiến từ hàng ngũ của những người cầm súng, thì Andrew Lam lại là người ghi chép cuộc chiến từ góc nhìn của thế hệ sau: thế hệ của những đứa trẻ phải rời bỏ quê hương, trưởng thành trên đất Mỹ, và vật lộn với ký ức không phải do chính mình trải nghiệm nhưng lại không thể thoát khỏi ảnh hưởng của nó.
Viết trong bối cảnh 50 năm sau ngày Sài Gòn sụp đổ, Stories from the Edge of The Sea vận trong những trang sách sự tiếp nối của một di sản gia đình. Không giống như những tác phẩm hồi ký hoặc lịch sử của cha ông, Andrew Lam chọn một cách diễn đạt khác: không tái hiện những trận đánh hay bom đạn, mà khắc họa những vết thương; không tập trung vào những chiến lược quân sự, mà hướng về những tâm hồn lưu vong. Đọc Andrew Lâm người đọc có cảm tưởng như đang nghe một cuộc đối thoại với lịch sử—một cuộc đối thoại giữa thế hệ cha anh và thế hệ những người con sinh ra từ cuộc chiến nhưng lớn lên trong một thế giới hoàn toàn khác.
Stories from the Edge of The Sea không chỉ đánh dấu hành trình 50 năm của người Việt tại Mỹ, mà phác họa những vết cắt rất riêng về con người, ký ức, và nỗi ám ảnh của người Việt lưu vong. Mỗi câu chuyện là một cuộc đối thoại không ngừng giữa giữa quá khứ và hiện tại, giữa những người đã chết và những người còn sống. Đọc Andrew Lâm, ta không chỉ thấy những cá nhân vật lộn với căn tính và di sản, mà thấy bóng dáng lịch sử của cả một cộng đồng đã cố gắng sống và vươn lên, như cây xanh mọc rễ vươn cao tươi tốt trên vùng đất mới, dù bên dưới chôn kín những vết thương không bao giờ lành. Mỗi câu chuyện là một tầng ký ức, một cách nhìn khác nhau về cuộc đời, ở mỗi không gian khác.
Với “Agape at the Guggenheim”,người đọckhông còn thấy những ký ức vượt biên, không còn nghe âm hưởng chiến tranh, mà là một tình cảnh hiện thời, tình cờ diễn ra tại bảo tàng Guggenheim. Nhân vật chính—một người đàn ông gốc Việt, đi xem triển lãm nghệ thuật Trung Hoa cổ xưa, nhưng lại bị thu hút bởi một chàng trai xa lạ mà anh ta chỉ nhìn thấy thoáng qua. Một ánh mắt, một cử chỉ, một sự quyến rũ mơ hồ kéo anh ta vào một cuộc rượt đuổi. Nhưng cuối cùng, thay vì đến gần người ấy, anh ta lại dừng lại trước một tượng Phật và bắt đầu cầu nguyện. Sử dụng bút pháp hiện đại pha trộn giữa hài hước và tư duy, Andrew Lâm vẽ ra bức tranh chồng chéo, giằng xé giữa hai thế giới: giữa những khao khát dục vọng rất đời thường và những gốc rễ tâm linh đã bị lãng quên, đặt ra câu hỏi về tình yêu và sự trống rỗng: liệu anh ta đang thực sự khao khát một con người, hay chỉ là hình bóng của một điều gì đó đã mất? Và đây cũng là điểm mạnh của tác giả, với lối viết khéo léo, tự nhiên, tài tình, Anh đã biến một khoảnh khắc tình cờ trong bảo tàng thành một cuộc hành trình nội tâm đầy ám ảnh.
Không gian, thời gian của “Stories from the Edge of The Sea” hoàn toàn không giới hạn, đọc “Voices from the Cliff” (Tiếng Vọng Từ Vách Đá), độc giả có thể theo chân một nhà thám hiểm gốc Việt leo lên đỉnh một ngọn núi ở Bắc Cực, và từ đó cùng nhân vật chính trở về theo tiếng vọng của quá khứ – từ thời thơ ấu ở Việt Nam đến cuộc sống hiện tại ở Mỹ.
Những câu chuyện trong Stories from the Edge of Sea vừa là những mảng đời thích nghi, khám phá cuộc sống mới, vừa là những mảnh vỡ giằng xé với quá khứ, những nỗ lực, chọn lựa để kết nối với những gì đã mất. Andrew Lam không kể một câu chuyện có mở đầu và kết thúc rõ ràng, mà tạo ra những lát cắt nhỏ của cuộc đời—nơi mỗi nhân vật đều đang lang thang tìm kiếm một điều gì đó: tình yêu, sự công nhận, ký ức, hoặc chỉ đơn giản là một khoảnh khắc để hiểu chính mình, để hiểu cách chúng ta sống và tồn tại trong thời đại này.
Nếu văn chương của thế hệ trước – thế hệ nhân chứng trực tiếp của cuộc chiến như Nguyễn Mộng Giác với Mùa Biển Động, Nhật Tiến với Một Thời Đang Qua tập trung vào việc ghi lại lịch sử và phản ảnh bi kịch của dân tộc, thì văn chương của thế hệ của Andrew Lâm – thế hệ nhân chứng gián tiếp, lại ghi chép từ một góc nhìn hoàn toàn khác: đào sâu vào những vết thương chưa bao giờ lành, và để lịch sử tự nó len lỏi vào từng nhân vật, từng mảng ký ức.
Nếu 50 năm trước, người Việt đến Mỹ với hai bàn tay trắng, thì nay họ đã trở thành một trong những cộng đồng thiểu số thành công nhất tại Hoa Kỳ. Nhưng thành công đó có xóa nhòa được những ký ức quá khứ không? Andrew Lam không đưa ra câu trả lời, nhưng qua từng câu chuyện, Anh dường như muốn nói rằng có những vết thương không bao giờ biến mất—chúng chỉ lặng lẽ chảy ngầm bên dưới cuộc sống mới.
Tác giả khép tuyển tập này lại bằng cách mở ra một niềm tin lạc quan vào sự tốt đẹp của bản chất con người và cuộc đời – bằng câu chuyện cuối cùng, bài điếu văn Anh viết cho Mẹ: “Cây của Sự Sống”. Hình ảnh kiên cường và lòng yêu thương vô bờ của người mẹ của chính tác giả qua những biến cố thăng trầm của lịch sử dân tộc Việt, là biểu tượng cho sức mạnh, lòng bao dung, bác ái, tình yêu, hy vọng, là nguồn cội soi đường đưa những linh hồn lưu vong lạc lối trở về với khải hoàn:
“Và khi tôi sắp xếp lại tất cả những hình ảnh trải dài qua từng năm tháng buồn vui đời người, tôi thề với bạn, tôi như đang nghe thấy tiếng cười hạnh phúc của mẹ tôi vang lên, rộn ràng và vang vọng – bởi vì mẹ biết rằng mẹ đã chiến thắng.”* (Andrew Lam, trích Tree of Life)
Nina Hòa Bình Lê
*Sách viết tiếng Anh, những câu trích trong câu truyện cuối bằng tiếng Việt theo bản dịch tiếng Việt của Võ Hương Quỳnh – đăng trên trang Da Màu.
– Mời đọc “She in a Dance of Frenzy”– được nhà văn Trịnh Y Thư dịch sang tiếng Việt, đăng trên cùng số báo Việt Báo hôm nay trong mục Văn Học: “Cô Gái Trong Điệu Nhảy Loạn Cuồng”.
Các quan chức cho biết một đứa trẻ mới biết đi đã đào được một kho báu cổ xưa trong chuyến đi chơi cùng gia đình ở miền nam Israel vào đầu tháng này.
Khi đến thăm địa điểm khảo cổ Tel Azekah, cách Tel Aviv khoảng 50 dặm về phía đông nam, Ziv Nitzan, 3 tuổi, đã tìm thấy một lá bùa bọ hung được cho là thuộc về cộng đồng người Canaan có niên đại từ 3.800 năm trước, theo Cơ quan Cổ vật Israel , một cơ quan bảo tồn quốc gia. Một địa điểm có ý nghĩa trong Kinh thánh, Tel Azekah là một ngọn đồi được tạo ra từ các mảnh vỡ của các khu định cư được xây dựng chồng lên nhau theo thời gian.
Chị gái của đứa trẻ, Omer Nitzan, chia sẻ với Cơ quan Cổ vật rằng phát hiện này xảy ra vào đầu tháng 3.
“Chúng tôi đang đi dọc theo con đường, và rồi Ziv cúi xuống – và trong số tất cả những viên đá xung quanh, cô ấy nhặt viên đá này lên”, Omer Nitzan cho biết, theo hãng thông tấn. “Khi cô ấy chà xát và loại bỏ cát ra khỏi viên đá, chúng tôi thấy có điều gì đó khác lạ ở nó”. Sau đó, gia đình đã trình báo phát hiện này với cơ quan quản lý cổ vật.
Daphna Ben-Tor, một người phụ trách khảo cổ học Ai Cập tại Bảo tàng Israel ở Jerusalem, người có chuyên môn về bùa hộ mệnh và con dấu cổ, đã xác định rằng kho báu nhỏ này có nguồn gốc từ Thời đại đồ đồng giữa, một giai đoạn kéo dài từ khoảng năm 2100 đến năm 1600 trước Công nguyên. Thời đại đó chứng kiến sự trỗi dậy của một nền văn hóa Canaanite thịnh vượng ở Levant, một khu vực được cho là bao gồm các phần của Syria và Lebanon đương thời, giáp với Biển Địa Trung Hải phía đông. Người Canaanite là một nhóm dân tộc Semit đầu tiên sống ở khu vực này và xuất hiện trong các văn bản Kinh thánh.
Một đứa trẻ đã đào được một kho báu cổ xưa trong chuyến đi chơi cùng gia đình ở miền nam Israel.Cơ quan Cổ vật Israel/Facebook
Theo Cơ quan Cổ vật Israel, những chiếc bùa hộ mệnh hình con bọ hung như chiếc mà Nitzan tình cờ bắt gặp là những vật thể nhỏ, được trang trí công phu được thiết kế để mô phỏng một con bọ hung. Cơ quan này lưu ý rằng những báu vật nhỏ bé này có thể bắt nguồn từ Ai Cập cổ đại, nơi bọ hung được “coi là linh thiêng” và được coi là “biểu tượng của sự sống mới” hoặc thậm chí là của Chúa.
“Bọ hung được sử dụng trong thời kỳ này như con dấu và bùa hộ mệnh”, Ben-Tor cho biết trong một tuyên bố . “Chúng được tìm thấy trong các ngôi mộ, trong các tòa nhà công cộng và trong nhà riêng. Đôi khi chúng mang các biểu tượng và thông điệp phản ánh tín ngưỡng tôn giáo hoặc địa vị”.
Nitzan đã phát hiện ra bùa hộ mệnh ở một khu vực của Tel Azekah, nơi các hiện vật lịch sử trước đây đã được tìm thấy, các nhà khảo cổ học cho biết. Các hiện vật khác được xác định bao gồm các bức tường thành phố và các công trình nông nghiệp từ Vương quốc Judahite, tồn tại trong Thời đại đồ sắt vào thiên niên kỷ cuối cùng trước Công nguyên.
“Chúng tôi đã khai quật ở đây trong gần 15 năm và các phát hiện khai quật cho thấy rằng trong thời kỳ đồ đồng giữa và đồ đồng muộn, tại Tel Azekah, một trong những thành phố quan trọng nhất ở vùng đất thấp Judean đã phát triển thịnh vượng”, Oded Lipschits, một giáo sư tại Đại học Tel Aviv, người đã chỉ đạo một cuộc khai quật khảo cổ tại địa điểm này, cho biết. “Con bọ hung mà Ziv tìm thấy nằm trong danh sách dài các phát hiện của người Ai Cập và người Canaan được phát hiện tại đây, chứng thực cho mối quan hệ chặt chẽ và ảnh hưởng văn hóa giữa Canaan và Ai Cập trong thời kỳ đó”.
Bùa hộ mệnh này sẽ được trưng bày tại một cuộc triển lãm đặc biệt do Cơ quan Cổ vật Israel tổ chức vào lễ Vượt qua vào giữa tháng 4.
Chiến tranh Việt-Pháp từ 1946 đến 1954 và Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa từ 1955 đến1963 chỉ trong khoảng thời gian 8 năm nhưng đã kéo dài dây dưa dai dẳng so với 50 năm từ 1975 đến 2025 tưởng chừng như chỉ cùng thời gian 2 chế độ trên..
Chúng ta kẻ trước người sau đã lần lượt sống xa quê hương gần hoặc trên nửa đời người kể từ ngày Việt Nam Cộng Hòa bị người bạn đồng minh bỏ rơi để trao cả miền Nam cho Cộng Sản. Dù đang sống ở trong hay ngoài nước, mọi người Việt đều đau lòng nghĩ đến những tang thương mất mát sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975.
Là nhân chứng sống trong cuộc di tản cuối cùng khỏi Nha Trang của Quân Đoan II, tôi muốn ghi lại đây những gì đã xẩy ra trong đêm 31-3-1975.
Tôi thuộc khóa 24 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức dưới 2 đời Chuẩn Tướng Lâm Quang Thơ và Bùi Hữu Nhơn 1966-1967. Khóa 24 may mắn không phải qua giai đoạn I tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung như đa số các khóa trước mà đi thẳng vào Thủ Đức. Một điểm đặc biệt nữa là dù chưa gắn Alpha, khóa chúng tôi vẫn được lần đầu tiên mặc thường phục đi phép. Thời gian còn đang trong giai đoạn I, sinh viên nào khá Anh Ngữ muốn về Trường Sinh Ngữ Quân Đội thì ghi danh dự thi. Tôi may mắn cùng 12 SVSQ khác được chọn, nhưng vẫn phải tiếp tục thụ huấn cho đến ngày mãn khóa.
Trường Sinh Ngữ Quân ĐộiQuân Lực VNCH là nơi quân nhân được các đơn vị gửi đến để trau dồi Anh Ngữ trước khi xuất ngoại du học về các ngành chuyên môn, khác với Trường Văn Hóa Quân Đội dạy đủ các môn như 1 trường Trung Học tư thục hay công lập. Trường Sinh Ngữ Quân Đội nằm đối diện trung tâm tiếp huyết của Tổng Y Viện Cộng Hòa. Trường chỉ có một chi nhánh duy nhất nằm trong Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang. Tôi được biệt phái về đây vào năm 1967, sau khi khóa 16 SVSQ Hải Quân vừa ra trường. Đây là điều may mắn cho tôi vì được phục vụ ngay tại quê nhà. Làm việc chung với áo trắng truyền thống Hải Quân, nhưng 5 sĩ quan giảng viên Anh ngữ chúng tôi vẫn mặc quân phục Lục Quân.
Tôi cùng với đồng nghiệp Nguyễn Văn Minh là 2 sĩ quan giảng viên lâu năm nhất thuộc Chi Nhánh Anh ngữ tại Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang. Cá nhân tôi bắt đầu dạy Anh văn cho SVSQ Hải Quân năm thứ 2 khóa 17 đến khóa 26 là khóa cuối cùng. Tôi chỉ gián đoạn 2 lần đi tu nghiệp sư phạm tại Hoa Kỳ. Ngày về nước tôi vẫn tiếp tục phục vụ tại TTHLHQNT qua 4 đời Chỉ Huy Trưởng: HQ Đại Tá Đinh Mạnh Hùng, HQ Đại Tá Khương Hữu Bá, HQ Đại Tá Nguyễn Trọng Hiệp (phu quân ca sĩ Kim Tước) và Phó Đề Đốc Nguyễn Thanh Châu.
Tài liệu giảng dạy dựa vào các sách giáo khoa American Language Course (ALC) tập 1100-1400 và 2100-2400 của Viện Ngữ Học Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ cùng với tài liệu do giảng viên Việt Mỹ thuộc Chi Nhánh phối hợp soạn thảo liên quan đến từ ngữ Hải quân (naval terminology).
Bây giờ xin được đề cập đến nhân vật chính trong bài viết này: Hải Quân Trung TáHà Ngọc Lương.
Tôi chào hỏi và quen biết Trung Tá Hà Ngọc Lương khi Trung Tá còn là Đại Úy làm Tiểu Đoàn Trưởng Sinh Viên Sỹ Quan trong buổi tiệc mừng năm thứ II của khóa SVSQ 17. Trung Tá Lương là người văn võ song toàn. Trong thời gian thụ huấn khóa 9 tại Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang, SVSQ Hà Ngọc Lương đều đạt điểm cao nhất trong cả 3 giai đoạn Alfa, Chuẩn úy đến tốt nghiệp. Ngày mãn khóa, SVSQ Thủ Khoa Hà Ngọc Lương vinh dự được Tổng Thống Ngô Đình Diệm đích thân gắn cấp bậc Thiếu Úy và trao kiếm danh dự.
(Tổng Thống Ngô Đình Diệm đang gắn cấp bậc cho tân Thiếu Úy Hà Ngọc Lương)
Trong suốt cuộc đời Hải nghiệp đạt đến cấp bậc Trung Tá, Hà Ngọc Lương đều chứng tỏ một Hạm Trưởng tài ba, một cấp chỉ huy xuất sắc. Trong thời gian làm việc chung với Trung Tá, cá nhân tôi rất quý mến qua tính tình hòa nhã thân thiện, không phân biệt cao thấp, Hải Quân hay Lục Quân.
Sáng thứ Hai ngày 31-3-1975, sau khi chào cờ như thường lệ, tôi rảo bước ra trước Trung Tâm vì thấy chiếc hạm HQ-402 đang ủi bãi ngay trước tượng Đức Trần Hưng Đạo.Tôi được vài sinh viên khóa 26 đang cầm súng đứng bao quanh miệng tàu cho biết là tàu này chỉ dành cho gia đình quân nhân cơ hữu của Trung Tâm. Ngay khi đó tôi thấy một đại úy Bộ Binh đang muốn lên tàu, tôi bảo sinh viên và không do dự, vị Đại úy được đưa lên tàu. Đây là Đại Úy Vũ Công Liêm, Chủ Tịch Hội Việt Mỹ tại Nha Trang. Đại Úy có mở các lớp Anh ngữ đàm thoại đêm cho giới doanh nhân trong thành phố và tôi được mời dạy tại đây.
Tôi trở lại Văn Phòng Anh Ngữ nhưng thấy tình hình quá sôi sục nên về nhà ở trong chợ Đồng Nai. Nhà vắng tanh vì trước đó một tháng vợ và 3 con tôi đã bay vào Sàigòn. Tôi khóa cửa cẩn thận rồi trở lại Trung Tâm theo lệnh của Đề Đốc Nguyễn Thanh Châu để chuẩn bị cho cuộc di tản cuối cùng. Nha Trang hôm nay chỉ còn có 2 ông Tướng là Nguyễn Ngọc Oánh bên Không Quân và Nguyễn Thanh Châu bên Hải Quân. Tỉnh trưởng Khánh Hòa Lý Bá Phẩm đã rời Nha Trang vào buổi sáng. Tội phạm trong cả 2 quân lao và dân lao đã đổ xô ra phố bắt đầu đột nhập vào những tiệm đang cửa đóng then cài của người Việt và cơ sở các cố vấn Mỹ nhằm hôi của.
Tại Trung Tâm HLHQ, tôi hay tin Hải Quân Trung Tá Hà Ngọc Lương đang là Trưởng Phòng Văn Hóa Vụ được Tướng Châu chỉ định làm sĩ quan hành quân cho cuộc di tản nên tôi nóng lòng 3 lần ghé qua văn phòng dò hỏi tin tức. Tôi thấy vợ con cùng Trung Tá đang ngồi trong phòng. Lần nào tôi cũng nghe chị Duyên cằn nhằn cau có khó chịu với Trung Tà Lương. Câu chị thường lập đi lập lại mà tôi nghe rõ nhất: “Anh làm Trung Tá mà không có chỗ cho vợ con”. Thật sự tôi không quan tâm về số con mà chỉ để ý đến vợ Trung Tá Lương là chị Duyên. Tôi có trương mục với ngân hàng Việt Nam Thương Tín tại ngã 3 Công Quán và Yersin Nha Trang nên thỉnh thoảng ghé qua nhưng không lần nào may mắn trực tiếp giao dịch với chị.
Vào khoảng 10 giờ đêm thì lệnh được ban ra và tất cả quân xa đồng lăn bánh trực chỉ Cầu Đá. Tôi cùng Đại Úy Nguyễn Văn Minh ngồi chung xe Jeep do Trung Tá Chỉ Huy Phó TTHLHQ Nguyễn Nam Thanh lái vì lúc bấy giờ anh tài xế chính là Tô Thừa quyết định không cùng di tản (*)
Cầu Đá lúc này như một bãi chiến trường vì súng ống từ các chiến hạm trước đã vứt bỏ lại. Tàu thì đậu cách cảng có đến 1 mét có lẽ nhằm gây khó cho thường dân đang chen nhau lên tàu . Ngay cả Đại úy Minh và Thiếu Tá Trưởng Phòng Kỷ Thuật Phan Như Hoàng đã rơi xuống nước. Nhưng như chuyện Ngư Ông Thất Mã, trong rủi có hên nên cả hai vị này được Đề Đốc Châu cho đi cùng xe Jeep lên phi trường bay về Sài Gòn trước.
Sau một đêm hải hành, tàu chúng tôi may mắn được Bộ Tổng Tham Mưu cho phép ủi bãi tại Cát Lái trong khi hầu hết các tàu khác phải đi thẳng ra Phú Quốc để tránh hỗn loạn trong thủ đô quá đông người.
Chúng tôi vào trình diện Trung Tá Trịnh Đình Phi, Chỉ Huy Trưởng Trường SinhNgữ Quân Đội, và thật may mắn được Trung Tá cho tại ngoại, coi như mất tích ở ngoài Trung (mising in action). Nhờ vậy mà tôi cùng gia đình được người bạn đồng nghiệp là Nguyễn Hữu Hoàng đã giải ngũ và làm việc cho Cố Vấn Mỹ ở Tân Cảng đưa lên chiếc thương thuyền của Mỹ chạy sang Subic Bay Phi Luật Tân đêm 24-4-1975. Viết đến đây tôi bùi ngùi thương tiếc người bạn tốt đã đưa gia đình tôi đến bến bờ tự do, nhưng đã không còn trên cõi đời này nữa vì anh đã vĩnh viễn ra đi ngày 15-3-2024
Bây giờ trở lại chuyện HQ Trung Tá Hà Ngọc Lương. Vì tất cả quân xa đều chật cứng quân nhân lẫn gia đình còn sót lại trong chuyến ra đi buổi sáng, trong lúc Trung Tá Lương không có xe Jeep dành riêng cho Trưởng Phòng Văn Hóa Vụ nên tôi không rõ gia đình Trung Tá Lương có đi được hay không. Mãi đến khi tôi ghé thăm quân nhân TTHLHQ đang tạm đồn trú tại trại Yên Thế trước bệnh viện Grall Sài Gòn thì mới biết cả gia đình Trung Tá bị kẹt lại.
Theo chị Nguyễn Thị Lý với bút hiệu Nguyễn Thị Thể Lý là phu nhân Hải Quân Thiếu Tá Hà Tấn Thể thì sáng ngày 1-4-1975 chị còn gặp và nói chuyện với vợ chồng Trung Tá Lương tại cư xá Hải Quân trên đường Lê Văn Duyệt Nha Trang.
Chắc chắn đây là một sự nhầm lẫn giữa 31-3 và 1-4. Tôi có điệnđàm với đại úy Nguyễn Tạo là Chánh Văn Phòng của Phó Đề Đốc Nguyễn Thanh Châu đang định cư tại Houston Texas, một nhân chứng sống ngoài tôi để nêu ra mấy điểm dưới đây:
Đêm 31-3-1975 theo lệnh của Phó Đề Đốc Nguyễn Thanh Châu tất cả sĩ quan và gia đình trong cư xá phải di tản, ngoại trừ vài gia đình không muốn ra đi.
Trung Tá Lương cũng mang vợ con xuống ngồi đợi trong văn phòng.
Vì tất cả quân xa đều chất đầy quân nhân cùng gia đình chưa đi kịp vào chuyến tàu sáng, nên Trung Tá không không có cách nào hơn là bắt vợ con tiếp tục ngồi đợi.
Tìm đâu có phương tiện để Trung Tá Lương đưa vợ con về lại cư xá?
Nếu sáng 1-4 Trung Tá còn ở cư xá thì bằng cách nào và tại sao lại đưa vợ con trở lại văn phòng để cùng quyên sinh?
Vậy là không có cơ sở để nghi ngờ việc chính đêm 31/3/1975 Trung Tá Lương đã bắn vợ con rồi tự sát mặc dù Việt Cộng mãi đến 2/4/1975 mới vào thành phố Nha Trang (Công trường 2/4 trước Ty Tông Tin).
Tôi có tham dự buổi lễ cầu siêu cho Trung Tá Hà Ngọc Lương do phu nhân cựu Hải Quân Trung Tá Mai Văn Hoa cùng Hội Hải Quân Cửu Long tổ chức tại chùa Bát Nhã thành phố Santa Ana, Nam California vào sáng Chủ Nhật 29-3-2015. Trong phần phát biểu, Trung úy Vũ Kim Thanh nói: “…HQ Trung Tá Hà Ngọc Lương không muốn rơivào tay giặc…”. Trong cuốn “Hải-Quân Việt-Nam Cộng-Hòa Ra Khơi 1975”, tác giả Điệp-Mỹ-Linh đã không ghi tên HQ Trung Tá Hà Ngọc Lương trong số “Những Anh Hùng Hải Quân Tuẩn Tiết” như HQ Thiếu Tá Lê Anh Tuấn tự sát sau khi TT Dương Văn Minh ra lệnh buông súng ngày 30-4-1975 do Trung Tá Hà Ngọc Lương không ở trong trường hợp tự sát vì không muốn để giặc bắt.
Thoạt nghe hung tin về việc Trung Tá Lương tự tử, tôi nhớ ngay đến lời chị Lương phàn nàn “Anh là Trung Tá mà không có chỗ cho vợ con”. Trong tình thế cấp bách phải ra đi gấp mà vợ thì liên tục cằn nhằn nhăn nhó khiến Trung Tá Lương rơi vào tình thế tâm thần bị kích động dồn nén đã phải giải quyết bế tắc bằng cách bắn vợ con rồi tự kết liễu đời mình.
Xin được kể thêm một trường hợp nữa để tăng cường nhận xét của mình: vào khoảng 1961-1962 thời còn là sinh viên, trong nhóm bạn quen nhau ăn cơm tháng tại nhà số 37 đường Nguyễn Trãi gần Tổng Nha Cảnh Sát Đô Thành, tôi có anh bạn sau gia nhập Hải Quân, còn tôi làm việc cho cố vấn quân sự Mỹ. Trước khi Việt Cộng chiếm Sài Gòn năm 1975 cả 2 chúng tôi may mắn ra đi dễ dàng. Anh định cư ở miền Đông, tôi ở Nam Cali. Vài năm sau tôi được hung tin anh đã chọn cái chểt bằng cách nhảy ra khỏi xe trên xa lộ sau khi cãi nhau với vợ. Những người chồng ít học thường vũ phu với vợ. Trong khi giới trí thức thường dùng cái chết để giải quyết vấn đề.
Một sự trùng hợp coi như định mệnh cho cả hai vị Trung Tá Hải Quân
Tóm lại, Hải Quân Trung Tá Hà Ngọc Lương đã không chịu nỗi cảnh bị vợ liên tiếp cằn nhằn trách móc nên bứt chí đưa đến quyết định bắn cả vợ con và tự tử đêm 31-3-1975.
Nhân kỷ niệm 50 năm đêm tang thương xẩy ra tại Văn phòng Văn Hóa Vụ Trung Tâm Huân Luyện Hải Quân Nha Trang, xin được thắp nén hương lòng thương tiếc gia đình cựu Hải Quân Trung Tá Hà Ngọc Lương.
(*) Trung sỹ Tô Thừa đã rời xe Jeep của Chỉ Huy Phó Nguyễn Nam Thanh rồi quyết định ở lại chứ không di tản cùng đồng đội về Sài Gòn. Nhờ vậy Trung sỹ Thừa mới có cơ hội tạm chôn gia đình Trung Tá Lương trên bãi cát trước Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang theo như tường thuật của chị Nguyễn Thị Thể Lý.
SAN FRANCISCO — Chính quyền Trump đã quyết định đóng cửa Văn phòng Khu vực 9 của Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh Hoa Kỳ tại San Francisco. Chủ tịch danh dự Nancy Pelosi chỉ trích việc đóng cửa được báo cáo là “thiển cận”.
Nhân viên trên toàn HHS bắt đầu nhận được thông báo sa thải vào thứ Ba trong một cuộc cải tổ lớn dự kiến sẽ sa thải tới 10.000 người. Văn phòng khu vực của bộ tại San Francisco được đặt theo tên của nhà lập pháp lâu năm của thành phố Nancy Pelosi và sẽ đóng cửa vào mùa xuân.
“Văn phòng HHS Khu vực 9 tại San Francisco phục vụ trực tiếp nhu cầu của hàng triệu người Mỹ ở Bay Area, tiểu bang California và nhiều nơi khác nữa,” Pelosi cho biết trong một tuyên bố. “Bằng cách đóng cửa văn phòng khu vực của chúng tôi, Chính quyền Trump sẽ chọn cách đặt sức khỏe và sự an toàn của cư dân Bay Area và tất cả người dân California vào tình trạng nguy hiểm, phá hủy các sáng kiến y tế công cộng quan trọng như Chương trình HIV/AIDS Ryan White và có khả năng cắt giảm hàng trăm công việc của viên chức nhà nước do những người dân California chăm chỉ đảm nhiệm.”
“Đừng nhầm lẫn: các kế hoạch được đưa tin về việc tái cấu trúc HHS và đóng cửa văn phòng khu vực San Francisco sẽ gây tổn hại trực tiếp đến hầu hết các cộng đồng dễ bị tổn thương và khiến nước Mỹ trở nên tồi tệ hơn”, Pelosi cho biết trong một tuyên bố.
Việc đóng cửa văn phòng khu vực tại San Francisco có nghĩa là hơn 300 nhân viên quản lý Medicare, Medicaid và các dịch vụ cho người bản địa sẽ mất việc. Một số người làm việc cho Chương trình HIV/AIDS Ryan White, một chương trình cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho những người nhiễm HIV ở Vùng Vịnh và nhiều nơi khác.
Bên ngoài tòa nhà vào sáng thứ Ba đã thấy những nhân viên rời khỏi tòa nhà cùng với đồ đạc của họ. Một nhân viên bị sa thải nói rằng họ chỉ biết về việc đóng cửa khi đến làm việc vào sáng thứ Ba.
“Việc đóng cửa văn phòng thiển cận này sẽ dẫn đến việc chậm trễ nghiêm trọng trong việc cung cấp các nguồn lực cần thiết cho người dân San Francisco và tác động tiêu cực đến khả năng ứng phó với sức khỏe cộng đồng của chúng ta — tất cả đều nhân danh cái gọi là ‘hiệu quả của chính phủ’”, Pelosi cho biết. “Điều đáng chú ý là quyết định được đưa tin này được đưa ra bởi người phủ nhận vắc-xin hàng đầu của Chính quyền Trump, Bộ trưởng Kennedy, người có quan điểm cực đoan về sức khỏe cộng đồng không phù hợp với đại đa số người dân Mỹ”.
Các quan chức cho biết một số khoản cắt giảm hoặc thu hẹp quy mô các phòng ban có thể được chuyển đến một tổ chức mới có tên là Cơ quan Quản lý Sức khỏe Hoa Kỳ, nhưng các nhà lập pháp đảng Dân chủ và những người ủng hộ sức khỏe cho biết những khoản cắt giảm sâu rộng này có nguy cơ gây nguy hiểm cho các nỗ lực chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Tổng chưởng lý California Rob Bonta đang khiếu nại việc cắt giảm này tại tòa án và đã cùng hơn 20 tiểu bang khác kiện chính quyền Trump.
Bộ trưởng HHS Robert Kennedy Jr., người từng gây tranh cãi vì quan điểm của mình về việc tiêm chủng, đã công bố kế hoạch vào tháng trước nhằm hợp nhất 10 văn phòng khu vực của Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh thành năm văn phòng.
Thông báo này được đưa ra chỉ vài ngày sau khi Trump có động thái tước quyền thương lượng tập thể của người lao động tại HHS và các cơ quan khác trong toàn chính phủ.
Tuần trước, Bộ trưởng Y tế Robert F. Kennedy Jr. đã công bố kế hoạch tái cơ cấu HHS, cơ quan chịu trách nhiệm theo dõi xu hướng sức khỏe và các đợt bùng phát dịch bệnh, tiến hành và tài trợ cho nghiên cứu y khoa, giám sát an toàn thực phẩm và thuốc men, cũng như quản lý các chương trình bảo hiểm y tế cho gần một nửa đất nước thông qua các cơ quan của mình.
Kế hoạch này sẽ hợp nhất các cơ quan giám sát hàng tỷ đô la cho các dịch vụ cai nghiện và các trung tâm y tế cộng đồng trên khắp cả nước thành một văn phòng mới có tên là Cơ quan Quản lý vì một nước Mỹ khỏe mạnh.
Việc sa thải này dự kiến sẽ thu hẹp HHS xuống còn 62.000 vị trí, cắt giảm gần một phần tư nhân viên — 10.000 việc làm thông qua việc sa thải và 10.000 công nhân khác đã nghỉ hưu sớm và tự nguyện nghỉ việc.